|
Sẽ
không còn những cái bẫy bắt muỗi bốc mùi như nhà vệ sinh. Nhóm nghiên
cứu thuộc trường đại học California, Davis do nhà sinh thái hóa học
Walter Leal chỉ đạo mới đây đã phát hiện ra một loại chất hấp dẫn giá
thành thấp, dễ làm có khả năng nhử muỗi hút máu mà không làm cho con
người phải bịt mũi khó chịu.
Mỗi một con muỗi cái có thể đẻ 200 trứng.
Hỗn
hợp tổng hợp có chứa hợp chất trimethylamine và nonanal với liều lượng
thấp, có khả năng lôi cuốn muỗi vằn giống như các loại chất hấp dẫn côn
trùng khác hiện có trên thị trường nhưng nó lại không mùi đối với con
người.
Nghiên cứu được công
bố trên số đang phát hành của tờ Public Library of Science Journal
(PloS ONE). Nghiên cứu có thể nắm giữ vai trò chủ chốt trong các chương
trình kiểm tra, giám sát loài muỗi vằn truyền các căn bệnh như sốt West
Nile, viêm não và giun chỉ bạch huyết.
Theo
Leal, loại bẫy đẻ trứng hay còn gọi là bẫy muỗi cái mang trứng lôi cuốn
những con muỗi hút máu đang trong giai đoạn sẵn sàng sinh sản, nhưng
những cái bẫy có thành phần là nước hay chất hóa học thường có mùi khó
chịu. Nó thực sự là một vấn đề lớn đối với những người sử dụng bẫy hoặc
những người sống gần đó.
Điều
này đã thúc giục các nhà nghiên cứu thuộc đại học California, Davis bắt
tay vào tìm kiếm một phương pháp đáp ứng nhiều yêu cầu, có thành phần
là các chất hóa học có khả năng hấp dẫn muỗi vằn mang trứng mà lại
không làm ảnh hưởng đến người dùng.
Địa
bàn thực hiện nghiên cứu của họ là Recife, Brazil - khu vực có quần thể
lớn muỗi vằn Culex quiquefasciatus. Nghiên cứu cho thấy sự kết hợp giữa
trimethylamine và nonanal “có công dụng tương đương với các loại chất
hẫp dẫn dạng lỏng pha chế hiện đang được sử dụng” nhưng “vượt trội hơn
vì không hề có mùi khó chịu”.
Phòng
thí nghiệm Leal đã tìm kiếm loại chất hấp dẫn côn trùng theo hai cách.
Đầu tiên là phương pháp sinh thái hóa học thông thường hay còn gọi là
tìm kiếm các mùi hấp dẫn được muỗi. Thứ hai là phương pháp mà Leal đăt
tên là “sinh thái hóa học nghịch đảo” bao gồm việc nghiên cứu khứu giác
sau khi nhận biết được mùi của chất hấp dẫn.
Các
quần thể muỗi được áp dụng hai loại bẫy: bẫy cacbonic thông thường và
bẫy muỗi cái sinh sản. Số lượng muỗi do bẫy cacbonic bắt được bị ảnh
hưởng ít hơn so với số lượng muỗi bắt được ở bẫy muỗi cái sinh sản.
Leal
cho biết: “Bẫy sinh sản có vai trò quan trọng hơn đối với việc giám sát
bởi nó bắt những con muỗi vừa hút máu, do đó có nhiều khả năng bị nhiễm
độc”.
Bằng cách điều khiển
các bẫy sinh sản có những con muỗi nhiễm virus West Nile, các khu vực
kiểm soát muỗi và vectơ cũng như các nhân viên y tế có thể xác định
được thời điểm thích hợp để phun thuốc.
Theo
Leal, một lợi ích nữa của bẫy sinh sản là khi những con muồi cái bị bắt
thì không phải chúng ta chỉ tiêu diệt được mình nó mà hàng trăm con
cháu của nó nữa. “Mỗi một con muỗi cái có thể đẻ khoảng 200 trứng, và
có chu trình sinh sản khoảng 5 lần. Nên khi chúng ta bắt được một con
muỗi mang trứng thì có thể loại bỏ khoảng 500 con muỗi cái khác”.
Nhà
nghiên cứu ngành côn trùng học William Reisen thuộc đại học California,
Davis nói rằng việc thử nghiệm với muỗi vằn ở môi trường thành thị thực
sự rất gian nan nhưng bẫy sinh sản có vai trò cực kỳ quan trọng.
Theo
Reisen, loài muỗi phía nam sống trong nhà Culex quinquefasciatus hút
máu của rất nhiều vật chủ, nên virus West Nile có thể lây lan nhanh
chóng qua các loài chim cũng như con người.
Reisen
cho biết: “Việc thử nghiệm với muỗi vằn ở môi trường thành thị sẽ vẫn
một thử thách lớn cho đến khi các nghiên cứu về quá trình sinh sản cho
phép phát triển các loại bẫy muỗi cái sinh sản có thể bắt được chủ yếu
là muỗi cái vừa hút máu trước đó thì sẽ có khả năng bị nhiễm độc nhiều
hơn”.
Leal nói hợp chất sử
dụng trong nghiên cứu “khá đơn giản và rẻ” nên sẽ là một lợi ích lớn
“không chỉ đối với chúng ta, mà là các nước thuộc thế giới thứ 3 nơi là
muỗi vằn Culex quinquefasciatus đang là một vấn đề lớn”.
Các
nhà nghiên cứu bắt đầu tiền hành thử nghiệm sơ bộ tại Davis và
Sacramento nhưng khi thuốc phun trong không khí đã có công dụng làm
giảm bớt tỉ lệ muỗi mang virus West Nile họ đã thực hiẹn ở Recife,
Brazil – thành phố nơi có căn bệnh giun chỉ bạch huyết hoành hành.
Các
nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu bao gồm Wei Xi, Yuko Ishida, Zain
Syed, Nicolas Latte, Angela Chen và Tania Morgan (thuộc đại học
California, Davis); Anthony Cornel - phó giáo sư ngành côn trùng học
thuộc đại học California, Davis kiêm giám đốc Phòng thí nghiệm nghiên
cứu kiểm soát muỗi đặt tại Trung tâm nông nghiệp Kearney, Parlier; cùng
với Rosangela M. R. Barbosa và André Furtado thuộc Khoa Côn trùng học,
Trung tâm Centro de Pesquisas Ageu Magalhaes-Fiocruz, Recife, Brazil
|